Tiền điện hội quán Phúc Kiến ở Hội An nhìn từ sân trong, mái hai tầng đắp rồng trên bờ nóc, đèn lồng đỏ và câu đối hai bên cửa chính, chậu cây cảnh phía trước.
ĐỊA ĐIỂM · HỘI QUÁN

Hội quán Phúc Kiến

46 đường Trần Phú

Từ một ngôi chùa nhỏ bên sông năm 1697, hội quán của người Phúc Kiến lớn dần qua từng đợt trùng tu thành công trình đồ sộ nhất trong năm hội quán người Hoa ở Hội An.

TRUYỀN THUYẾTCUỐI THẾ KỶ XVII

Tượng Phật trôi vào bờ

Thuở ấy khúc sông này còn rợp cây, dãy phố bây giờ vẫn còn là mặt nước. Tương truyền một pho tượng Phật trôi dạt vào bờ, người quanh vùng thấy tượng dát vàng bèn góp của thuê thợ đốn gỗ, dựng một ngôi chùa nhỏ thờ Phật, đặt tên Kim Sơn Tự. Hồ sơ xếp hạng di tích còn chép lại đúng câu chuyện này, và tự đặt luôn một câu hỏi bỏ ngỏ: truyền thuyết ấy phải chăng có liên quan đến người Chăm xưa?

Mưa nắng bào mòn dần, ngôi chùa xiêu theo năm tháng, chờ một cuộc đổi chủ.

HỘI QUÁN RA ĐỜI1697

Một vị thần biển giữa phố

Năm 1697, giữa lúc thương cảng Hội An đang vào độ thịnh, thương nhân Phúc Kiến đến buôn bán mỗi lúc một đông. Họ mua lại ngôi chùa hoang bên sông, dựng thành hội quán làm chỗ họp mặt đồng hương và thờ tự, rước bà Thiên Hậu Thánh Mẫu vào ngự giữa chính điện.

Sách chép bà họ Lâm tên Mặc Nương, người huyện Bồ Điền tỉnh Mân — tức Phúc Kiến ngày nay — sinh năm 960 đời Tống, mất trẻ rồi hiển linh cứu vớt tàu thuyền gặp nạn giữa biển khơi. Nhà Tống phong bà lần đầu năm 1122, nhà Thanh gia phong lần cuối năm 1839, còn triều Nguyễn ở nước ta cũng hai lần ban sắc: Minh Mạng năm 1826, Tự Đức năm 1850.

Tranh trên tường trong hội quán vẽ Thiên Hậu cùng một thị nữ bước trên sóng dữ, hướng về một chiếc thuyền gỗ đang chìm giữa phong ba, khách tham quan đứng xem phía trước.Ảnh 2015 · RThiele · Wikimedia Commons · CC BY-SA 4.0
Thiên Hậu bước trên sóng ra cứu một con tàu gặp nạn

Trong chính điện đến nay còn một mô hình thuyền buôn dài hai mét, tương truyền đó chính là thuyền bà dùng đi cứu người trên biển. Nhưng nhìn kỹ dáng thuyền, đó lại đúng là kiểu ghe bầu viễn dương mà chính thương nhân Trung Hoa vẫn dùng để vượt biển tới Hội An.

Một vị thần của biển khơi, được rước vào thờ trang trọng nhất giữa lòng một con phố nằm sâu trong đất liền.

ĐỔI TÊN, XÂY LẠI1757

Từ mái tranh sang mái ngói

Hội quán khi ấy vẫn còn là ngôi nhà mái tranh nhỏ bên sông. Năm 1757, bang Phúc Kiến đứng ra góp tiền xây lại toàn bộ bằng ngói, đổi tên hội quán thành nơi họp mặt của thương nhân Mân Thương. Hai tấm bia trùng tu còn nguyên trong hội quán hôm nay ghi đúng năm ấy, theo niên hiệu nhà Thanh — Càn Long năm Đinh Sửu.

Cửa chính hội quán, bức hoành phi son vàng phía trên đề bốn chữ Hán tên hội quán, hai bên là câu đối chữ đỏ.Ảnh 2020 · Josh Ellis · goteamjosh.com
Tên hội quán khắc ngay trên cửa chính

Xà cò trong hậu điện còn khắc hàng chữ ghi rõ ai dựng nên: bang trưởng, tổng lý, người coi việc hương khói, các thuyền trưởng và thương nhân người Phúc Kiến, tất cả cùng đứng tên. Xà cò ấy ghi năm bằng niên hiệu Long Phi — niên hiệu riêng của người Minh triều lưu vong, không dùng niên hiệu nhà Thanh vừa đánh đổ nước họ.

Ngay trong tên gọi khắc trên xà, người ta vẫn xưng mình là thần dân nhà Minh đã mất nước, dù đang đứng xây nhà bằng công của chính thời đại đã đánh đổ nó.

Nhưng người Minh Hương — con cháu di dân nhà Minh đã sống lâu đời ở Hội An, mang quốc tịch Đại Việt — không hẳn theo cái tên mới ấy. Một tấm biển thờ họ cung tiến năm 1851 vẫn khắc bốn chữ gọi nơi này là miếu Kim Sơn, gần một trăm năm sau ngày đổi tên chính thức.

MỘT TẤM BIA, MỘT BẰNG CHỨNG1807

Bia chợ Dinh

Trong hội quán còn một tấm bia ghi việc trùng tu chợ Dinh, dựng năm Gia Long thứ sáu, tức năm 1807. Bia do các ông Hứa Tân Phát, Hầu Hòa Lợi cùng Tú tài Nguyễn Cố Thịnh đứng tên, kèm chữ ký của 51 người.

Một góc nhà Đông trong hội quán, nền lát gạch hoa văn, bàn thờ tiền hiền treo câu đối son thếp vàng, một quả chuông đồng cũ đặt trên giá đỏ phía trước.Ảnh 2018 · Christophe95 · Wikimedia Commons · CC BY-SA 4.0
Nhà Đông, nơi đặt bàn thờ tiền hiền của bang

Nhà nghiên cứu Trần Kinh Hòa xem đây là bằng chứng sớm nhất cho thấy chế độ bang trưởng của người Hoa ở Đàng Trong đã hình thành, sớm hơn cả lần đầu tiên chức danh này được nhắc tới trong chính sử triều Nguyễn.

Một tấm bia sửa chợ, hóa ra lại là mảnh giấy khai sinh của cả một thiết chế quản người Hoa suốt thế kỷ sau đó.

HẬU ĐIỆN1849

Sáu ông không chịu khuất phục

Năm 1849, hội quán xây thêm hậu điện — phần duy nhất trong năm hội quán người Hoa ở Hội An có kiểu kiến trúc này. Nơi đây thờ Lục Tánh Vương Gia, sáu vị tướng trung thành với nhà Minh.

Thế kỷ XVII, nhà Minh suy, quân Thanh đánh chiếm Trung Nguyên. Sáu ông không chịu quy phục, nổi lên chống lại rồi tử trận. Người Mân — quê gốc của họ, nay là tỉnh Phúc Kiến — tạc tượng thờ, đặt tên riêng cho từng vị: Khâm Vương, Trương Vương, Thuấn Vương, Chu Vương, Hoàng Vương và Thập Tam Vương. Một khảo sát điền dã tại chính hội quán và một bài nghiên cứu dựa theo văn bia bên trong, làm độc lập với nhau, chép ra cùng một danh sách sáu cái tên ấy.

Lễ vía Lục Tánh Vương Gia hằng năm rơi vào ngày 16 tháng 2 âm lịch, là hội lớn nhất trong năm của hội quán — lớn hơn cả ngày vía Thiên Hậu. Người từ Đà Nẵng, Tam Kỳ, Huế, Quảng Ngãi cũng về dự. Sáu ông thua trận nơi quê nhà, hóa ra lại được thờ đông người nhất nơi đất khách.

KIẾN TRÚC LỚN NHẤT PHỐ1895–1900

Tám mươi sáu cây cột

Từ năm 1895 đến năm 1900, hội quán xây thêm cho tới quy mô còn thấy hôm nay: sâu 120 mét, rộng 24 mét, tổng diện tích 2.000 mét vuông — hội quán rộng nhất trong năm cái ở Hội An.

Cận cảnh rồng và phượng khảm sành sứ trên bờ nóc cong của tiền điện, phía dưới là ngói ống tráng men xanh lục, đầu ngói hình mề đay chạy dọc mái hiên.Ảnh 2010 · Jean-Pierre Dalbéra · Wikimedia Commons · CC BY 2.0
Chi tiết mái tiền điện, ngói tráng men và rồng khảm sành sứ trên bờ nóc

Hội quán có 86 cây cột, nhiều nhất trong năm hội quán — hội quán Trung Hoa đứng sau với 66 cột, còn hội quán Quảng Triệu ít cột nhất, chỉ 24 cây. Mái tiền điện được chạm trổ công phu nhất trong cả năm cái. Sân trời và chính điện lợp ngói âm dương và ngói vảy cá — loại ngói chỉ riêng hội quán này mới dùng, những mái khác trong phố đều lợp ngói ống thường.

Con rồng khảm sành sứ và mảnh thủy tinh uốn khúc trên hồ nước nhỏ giữa chính điện và hậu điện, lư hương đá phía trước, câu đối chữ đỏ trên tường phía sau.Ảnh 2010 · Jean-Pierre Dalbéra · Wikimedia Commons · CC BY 2.0
Hồ rồng giữa chính điện và hậu điện, đắp bằng ciment và khảm mảnh sành sứ

Nền hội quán cũng xây cao hơn hẳn bốn cái còn lại trong phố, nên những trận lụt vẫn nhấn chìm phố cổ mỗi mùa mưa ít khi lên nổi tới khu thờ tự chính.

ĐẠI TRÙNG TU1970–1974

Cổng mới sát mặt đường

Đợt trùng tu lớn nhất diễn ra từ năm 1970 đến năm 1974. Người ta làm lại toàn bộ tam quan, dựng thêm một lớp cổng ngoài bằng bê tông cốt thép sát đường Trần Phú, lát lại sân, xây hồ nước hình hoa mai với năm con cá chép phun nước ở sân trước.

Sư tử đá phong hóa đứng trên bệ chạm ở lối vào hội quán, chụp từ dưới lên với nền trời sáng, bên cạnh là một cành sứ.Ảnh 2020 · Josh Ellis · goteamjosh.com
Sư tử đá gác trước lối vào

Cổng mới cao bảy tầng mái ngắn dài nối nhau, đắp tượng thần mặt trời và thần mặt trăng hai bên bốn chữ đá 'Kim Sơn Tự' — cái tên đầu tiên của ngôi chùa, vẫn giữ trên đỉnh cổng dù hội quán đã đổi tên từ hơn hai trăm năm trước.

Tầng trên của cổng xây lại, bảng đá dọc khắc chữ Kim Sơn Tự đặt trong tường gạch đỏ, phía dưới mái ngói men xanh nhiều tầng, một trái cầu đỏ treo trong vòm cổng.Ảnh 2020 · Josh Ellis · goteamjosh.com
Cổng xây lại năm 1970–1974 vẫn giữ tên gọi đầu tiên của ngôi chùa

Trên một xà cò trong hậu điện, ghi năm hiếm hoi bằng dương lịch, người Phúc Kiến ở Hội An khắc lại việc mình cùng nhau trùng tu vào năm 1975 — một năm sau mốc kết thúc công trình theo hồ sơ, nhiều khả năng đó là năm khánh thành tấm xà cò chứ không phải trọn thời gian thi công.

CÒN LẠI ĐẾN GIỜTỪ 1983

Ba trăm năm sau

Hội quán được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia vào tháng 11 năm 1989. Từ năm 1983, nơi đây đã đón hàng vạn lượt khách tham quan, nghiên cứu mỗi năm.

Khám thờ với các pho tượng nữ thần ngồi sơn son thếp vàng ở tầng trên, hàng tượng thị nữ đứng phía dưới, vài tượng bồng trẻ nhỏ trong tay, hoa cúc vàng và chén nước cúng bày phía trước, biển hiệu ở chân khám ghi tên Kim Hoa Nương Nương bằng cả chữ Việt và chữ Hán.Ảnh 2015 · RThiele · Wikimedia Commons · CC BY-SA 4.0
Khám thờ Kim Hoa Nương Nương, ba bà Chúa Sanh Thai và mười hai bà Mụ

Hậu điện còn một khám thờ khác, thờ Kim Hoa Nương Nương cùng ba bà Chúa Sanh Thai và mười hai bà Mụ — các vị coi việc thai nghén, sinh nở. Người không thuộc bang Phúc Kiến, kể cả người Việt trong phố, vẫn đến đây thắp hương cầu con, hoặc sang khám thờ Tài Bạch Tinh Quân bên cạnh cầu tài lộc làm ăn.

Con cháu bang Phúc Kiến nay tản đi khắp nơi, có người ở tận nước ngoài, vẫn đều đặn gửi tiền về góp phần tu bổ những chỗ hư nhỏ. Ba trăm năm sau ngày một pho tượng trôi vào bờ, hội quán vẫn đứng, và vẫn còn người nhận nó là nhà.

LẦN THEO MẠCH CHUYỆN
LỜI NGỎ

Nhà mình có tấm ảnh nào chụp hội quán từ trước đợt trùng tu 1970–1974 không? Kho chưa tìm ra một tấm nào.

Hay biết tên đầy đủ của vị Thập Tam Vương Gia trong sáu ông? Cả hai nguồn kho đang có đều dừng ở tên gọi ấy.

Gửi cho Hội An Ký qua [email protected].

Gửi cho Hội An Ký →