Làng dựng bên khúc sông
Năm 1471, đạo Thừa tuyên Quảng Nam ra đời, người Việt từ phía bắc bắt đầu kéo vào xứ Quảng ngày một đông. Trong dòng người ấy, khoảng thế kỷ mười sáu, có tám tộc tiền hiền — Nguyễn Viết, Nguyễn Văn, Nguyễn Kim, Nguyễn Đức, Võ Văn, Võ Đình, Ngụy, Bùi — gốc gác từ vùng Thanh Nghệ, dừng chân bên một khúc sông Thu Bồn và lập nên làng Thanh Hà.
Chưa ai xác định được chính xác năm nghề gốm bắt đầu ở đây, chỉ biết dấu vết khảo cổ đưa khung niên đại nghề về khoảng thế kỷ mười bảy — muộn hơn ngày lập làng. Nơi làm gốm đầu tiên là ấp Thanh Chiếm, sau dời về Nam Diêu vì nơi này ba mặt giáp sông, vừa tiện lấy đất sét vừa tiện chở gốm đi bán.
Đất làng Thanh Hà xưa rộng hơn khối phố Nam Diêu hôm nay nhiều — một khảo cứu của người Pháp năm 1919 còn ghi lại con dấu riêng của một khu chợ nằm trên đất làng, khắc dòng chữ "Thanh Hà xã, Minh Hương phố". Làng nay thuộc phường Thanh Hà, cách phố cổ Hội An ba cây số về phía tây. Đất lập nghiệp đổi chỗ một lần, nghề thì ở lại.
Bảy chiếc chậu năm Đinh Mão
Người làng không giữ được ngày tháng nghề gốm bắt đầu, chỉ giữ được ngày tháng nghề gốm được nhắc tới. Sổ ngân lễ của làng Minh Hương, ghi năm Đinh Mão 1747, chép việc viên chức trong làng cử người sang Thanh Hà mua bảy chiếc chậu để trồng hoa quý, đem biếu quan Cai Án kiêm Tri Tàu Vụ. Không phải chậu thường mới được chọn làm quà biếu quan.
Giữa thế kỷ mười tám, gốm Thanh Hà đã có tên tuổi để người ta tìm mua khi cần thứ đẹp nhất. Người làng còn giữ tên gọi Nam Diêu cho xóm gốm của mình — gốm của phương Nam, phân biệt với gốm phương Bắc mà tổ tiên họ đã rời bỏ.
Đất lấy từ ruộng ven sông
Đất làm gốm ở đây là đất sét vàng, nằm dưới ruộng ven sông chừng năm mươi đến một trăm phân, dẻo tới mức không cần pha men vẫn giữ được hình. Người làng nhồi đất bằng tay và bằng chân, xéo đi xéo lại cho tới khi đất mịn như bột bánh mới đem chuốt.
Ảnh: báo Quảng Nam, qua hoianheritage.netViệc chuốt gốm ở Thanh Hà là việc của hai người phụ nữ ngồi chung một bàn xoay — một người trẻ hơn dùng chân đẩy bàn quay, tay đặt con đất mới lên bàn, một người lớn tuổi hơn ngồi áp tay vào con đất mà nặn hình. Đàn ông làm đất, sửa nguội, đốt lò. Gốm ra khỏi lò không tráng men, gõ vào nghe tiếng kêu vang, mang một trong các sắc đỏ, nâu, đen tùy độ lửa.
Hơn bốn mươi loại sản phẩm ra đời từ một bàn xoay như thế — cái hũ miệng loe, cái nồi đáy tròn, cái chum đựng mắm — mỗi cái mang dáng riêng nhưng cùng một bàn tay quen việc. Riêng loại ngói lợp mái sang, gọi là ngói lưu ly, mới cần tráng một lớp men mỏng nấu từ đồng, chì, đá son, cao lanh. Thợ đốt lò không có nhiệt kế, chỉ nhìn làn khói thoát ra từ miệng lò mà đoán độ nóng, và đặt thêm một chiếc "om thăm" ngay cửa lò — hễ om chín tới đâu, người thợ biết cả mẻ gốm bên trong chín tới đó.
Ảnh: Thị Ngà · Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di sản Văn hóa Hội AnGạch ngói đi xây phố
Năm 1803, để chuẩn bị xây miếu điện, vua Gia Long ra lệnh cho các địa phương chở vật liệu bản xứ về nộp — Nghệ An nộp gỗ lim, Gia Định nộp ván, Quảng Nam nộp gạch ngói. Sách Đại Nam Nhất thống chí sau này chép riêng một dòng cho Thanh Hà: "Đồ gốm, ở Thanh Hà huyện Diên Phước, có hộ chuyên nghiệp."
Ảnh tư liệu: Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di sản Văn hóa Hội AnGạch của làng xây, ngói của làng lợp, đi thẳng vào những ngôi nhà đang mọc lên dọc phố Hội An và một số đô thị khác ở miền Trung. Nhà xây trước, làng gốm theo sau lưng nhà, không ai tách bạch được cái nào có trước.
Thợ ra Huế, mang theo phẩm hàm
Thợ giỏi của Thanh Hà không chỉ ở lại làng. Gia phả tộc Nguyễn Văn còn chép chuyện ông Nguyễn Văn Đông, rồi tới đời cháu là Nguyễn Văn Bình, làm thợ ngói tại tượng cục Long Thọ trong kinh thành Huế. Em ông Bình là Nguyễn Văn Lò được sung vào thay anh, làm việc ở đó hơn tám năm. Gia phả tộc Nguyễn Viết chép ông Nguyễn Viết Ca từng làm ty trưởng công tượng.
Triều đình cũng cấp bằng, phong tước cho những người rành nghề. Ông Bùi Phước Thạnh được phong chánh cửu phẩm tượng mục năm Minh Mạng thứ mười, 1829, vì rành nghề nấu ngói và gạch lưu ly. Ông Bùi Phước Châu được tước tòng cửu phẩm năm Thiệu Trị thứ hai, 1842. Ông Võ Văn Hòa được tước tương tự vào năm Tự Đức thứ mười bốn, 1861.
Kỹ thuật nấu ngói lưu ly vốn hiếm ở thợ người Việt, và không ai còn giữ được nó ở làng hôm nay. Một nghề nung đất, đủ sức đưa người làng vào tận sân triều.
Cúng Tổ hai lần một năm
Ảnh: Hồng Việt · Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di sản Văn hóa Hội AnGiữa làng gốm có một khu miếu riêng cho nghề, gọi là miếu Tổ nghề gốm Nam Diêu, được xếp hạng di tích cấp tỉnh năm 2008. Mỗi năm hai lần, mồng mười tháng Giêng và mồng mười tháng Bảy âm lịch, thợ gốm cả ấp tề tựu về đây tế Xuân, tế Thu, khấn Tổ nghề cùng các vị thần bảo hộ xóm làng.
Trong lễ tế Xuân có một tục riêng gọi là tống Long Chu: người ta đưa một chiếc thuyền rồng nhỏ ra thả trên sông Thu Bồn, mang theo điềm xấu của cả năm trôi đi. Thợ trẻ vừa học xong nghề chuốt cũng phải ra mắt Tổ nghề một lần, coi như báo với người xưa rằng mình đã chính thức vào nghề.
Giữa thế kỷ hai mươi, trước và sau mỗi lần cúng Tổ, Nam Diêu còn có một gánh hát Bội do ông Quỳnh đứng ra tổ chức, diễn những tích như Quan Công phò nhị tẩu hay Hán Sở tranh hùng cho cả xóm xem. Một nghề nung đất, gói trong đó cả một lịch cúng, một tích tuồng, một chiếc thuyền thả sông mỗi năm.
Cảng lùi, làng vẫn buôn xa
Cuối thế kỷ mười chín, cảng Hội An mất dần vai trò trung tâm buôn bán về tay Đà Nẵng. Làng gốm không vì thế mà ngồi yên. Nhờ thế đất cận sông, thợ gốm khá giả sắm ghe bầu, chở gốm đi bán tận Quảng Bình, Quảng Trị, vào tới Quảng Ngãi, đổi lấy thóc gạo, hải sản, cả hũ sành từ Châu Ổ mang về bán lại.
Ảnh tư liệu: Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di sản Văn hóa Hội AnNgười làng gọi cảnh sung túc ấy bằng bốn chữ "thượng gia hạ thuyền" — trên nhà dưới ghe. Việc mua bán lò cũng thành nếp. Năm 1866, năm người họ Nguyễn Kim cùng lập tờ bán đứt một lò gốm cho vợ chồng Nguyễn Viết Quý với giá 105 quan. Năm 1937, bà Phan Thị Phước bán nốt lò gốm của cha mẹ để lại ở Nam Diêu, giá 10 đồng bạc. Lò ấy nay không còn, nền đất đã lở xuống sông từ lâu.
Nồi đất thua nồi nhôm
Đến giữa thế kỷ hai mươi, làng gốm Thanh Hà đụng một đối thủ không phải từ làng gốm nào khác mà từ chính vật liệu mới: nhôm, nhựa, kim loại rẻ và bền hơn đất nung. Chiến tranh kéo dài càng làm việc sản xuất khó thêm. Đồ sành ngừng hẳn, đồ gốm chỉ còn vài hộ giữ lò cầm chừng.
Gánh hát Bội của ông Quỳnh, vẫn diễn trước và sau lễ cúng Tổ nghề mỗi năm, cũng phải ngừng năm 1975 vì không còn ai nuôi nổi một gánh hát giữa lúc nghề chính đang tắt lửa. Một nghề từng đưa thợ ra tận sân triều, có lúc chỉ còn le lói ở vài căn nhà.
Lửa cháy lại nhờ khách qua đường
Những năm 1990, khách du lịch bắt đầu tìm tới Hội An, và cùng với họ là một thị trường mới cho làng gốm: đồ lưu niệm, đồ mỹ nghệ. Năm 2001, Hội An trích lại sáu mươi phần trăm tiền bán vé tham quan làng gốm để hỗ trợ người thợ, giữ chân những ai từng bỏ nghề đi làm ăn xa. Năm 2004, thợ gốm dựng lại gánh hát Bội đã tắt từ 1975, diễn lại cho bà con xem trong ngày hội làng.
Ảnh: Đ.T · báo Quảng NamCũng trong khoảng những năm chín mươi ấy, một dòng sản phẩm hoàn toàn mới ra đời: con thổi, nặn theo hình mười hai con giáp hay hình đứa trẻ chăn trâu, bán cho khách làm quà. Đây không phải đồ chơi năm trăm năm như nhiều người vẫn tưởng, mà là một nghề con sinh sau, sống nhờ đúng thứ suýt làm làng gốm chết: khách phương xa.
Từ đình làng tới danh hiệu quốc gia
Danh hiệu tới với Thanh Hà theo từng bậc, không phải một lần. Năm 1993, đình Xuân Mỹ của làng — dựng từ cuối thế kỷ mười tám — được công nhận di tích cấp quốc gia. Năm 2014, chính làng nghề được công nhận làng nghề cấp tỉnh. Và ngày 27 tháng 8 năm 2019, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ký quyết định đưa nghề gốm Thanh Hà vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Ba tấm bằng, ba năm khác nhau, cùng gọi tên một làng.
Gốm men trở lại nhờ một người trẻ
Trong ba dòng gốm cũ của làng — gốm đỏ, gốm sành, gốm men — dòng khó nhất đã từng biến mất. Nguyễn Viết Lâm nghe bà cố kể lại rằng kỹ thuật tráng men từng có ở Thanh Hà nhưng giá thành cao, ít người mua, rồi thất truyền.
Ảnh: Đ.T · báo Quảng NamNăm 2015, vừa tốt nghiệp trung học, Lâm không đi học tiếp mà quay về với đất sét và lò nung của gia đình. Anh cùng cha lặn lội học hỏi các làng gốm khác, rồi được một người bạn Nhật Bản chỉ cho kỹ thuật tráng men, từ đó dò ra được công thức men gần với cách người xưa của làng từng làm. Năm 2022, một chiếc bình hoa gốm men do anh làm ra trở thành sản phẩm OCOP ba sao.
Ảnh: Đ.T · báo Quảng NamCơ sở gốm Sơn Thủy của gia đình anh nay có hơn hai trăm mẫu mã gốm men, mỗi năm bán ra hơn năm trăm sản phẩm, có cả khách hàng ở Mỹ, ở Pháp. Một kỹ thuật từng chết theo giá thành, sống lại nhờ một người không chịu để nó chết.
Làng vẫn nổ lò mỗi sáng
Thanh Hà hôm nay có ba mươi hai hộ còn giữ nghề gốm, với một trăm ba mươi tư người làm việc trong đó. Thành phố Hội An hỗ trợ sáu mươi tám người trong số ấy bằng tiền trích từ vé tham quan — sáu triệu đồng một tháng cho sáu người xếp loại A, bốn triệu hai một tháng cho sáu mươi hai người còn lại. Năm 2023, hơn năm trăm năm mươi nghìn lượt khách tới thăm làng, mang về gần mười chín tỷ đồng tiền vé.
Ảnh: Đ.T · báo Quảng NamLàng có năm nghệ nhân được phong nghệ nhân ưu tú, trong đó một người — bà Nguyễn Thị Được — đã qua đời, để lại một gia đình bốn đời làm gốm vẫn cùng sống chung một mái nhà, ngày ngày truyền tay nhau nghề cũ. Đất vẫn được chở từ Điện Bàn, Duy Xuyên về bằng ghe như một trăm năm trước. Bàn xoay vẫn quay từ trái sang phải, đúng chiều mà người phụ nữ đầu tiên của làng từng đẩy nó.
- Hồng Việt, "Vài nét về làng gốm Thanh Hà trong lịch sử" — Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di sản Văn hóa Hội An
- Trần Văn An, "Một số tư liệu Hán Nôm về làng gốm Thanh Hà - Hội An" — Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di sản Văn hóa Hội An
- Thị Ngà, "Làng gốm Thanh Hà – Hội An thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX" — Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di sản Văn hóa Hội An
- Trương Hoàng Vinh, "Giá trị văn hóa phi vật thể đặc trưng của làng gốm Thanh Hà" — Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di sản Văn hóa Hội An
- Trương Hoàng Vinh, "Làng gốm Thanh Hà - những đối tượng bảo tồn" — Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di sản Văn hóa Hội An
- Thị Ngà, "Làng nghề gốm Thanh Hà, Hội An - Nét đặc trưng từ một làng nghề gốm truyền thống ở miền Trung" — Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di sản Văn hóa Hội An
- H.Đạo - V.Tây, "Nghệ nhân trẻ khôi phục dòng gốm men Thanh Hà" — báo Quảng Nam, đăng lại trên hoianheritage.net
- Khiếu Thị Hoài, "Nghề gốm Thanh Hà – Trao truyền sáng tạo và thăng hoa" — Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di sản Văn hóa Hội An
- "Nghề gốm Thanh Hà" — Cục Di sản văn hóa, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
- Dr Albert Sallet, "Le Vieux Faifo" — Bulletin des Amis du Vieux Huế, 1919
