Bệ đá vuông khắc chữ Sanskrit mờ, hiện vật C.137 tìm thấy tại Trà Kiệu, chụp trong kho hiện vật của bảo tàng ở Hà Nội, xung quanh còn các mảnh đá Champa khác.
THỜI ĐẠI · TRƯỚC CẢNG VIỆT

Lớp Chăm Pa của Hội An

Khi cửa sông Thu Bồn còn là Đại Chiêm Hải Khẩu

Trước khi có tên Hội An, khúc sông Thu Bồn này một nghìn năm là cảng-thị của vương quốc Champa, với đền tháp, văn khắc và mạng lưới buôn bán vươn tới Trung Hoa và Java.

TẦNG DƯỚI CÙNGKhoảng 2.000 năm trước

Trước khi có tên Champa

Hai nghìn năm trước khi ai gọi vùng đất này là Champa, đã có người chôn người thân của mình xuống đây.

Ở Hậu Xá, ngay trong lòng Hội An hôm nay, người ta gói tro cốt và đồ tùy táng vào những chiếc chum gốm, rồi vùi xuống đất. Các nhà khảo cổ khai quật khu mộ chum Hậu Xá II vào tháng 5 năm 1994. Tuổi các khu mộ chum Sa Huỳnh ở vùng Hội An được xác định vào khoảng 2.000 năm.

Không ai còn biết tên của những người nằm trong chum. Vài trăm năm sau, một cái tên khác mới xuất hiện trên đất này: Champa.

chum gốm mai táng kiểu Sa Huỳnh, cùng loại hình với những chiếc tìm thấy tại Hậu Xá, trưng bày tại Hội An
SỬ TRUNG HOA GHI TÊNNăm 192

Lâm Ấp vào sử

Năm 43, cuộc khởi nghĩa của bà Trưng Trắc ở quận Giao ChỉTÊN QUẬN THỜI HÁNGiao Chỉ · 交趾“Giao Chỉ” là tên quận do nhà Hán đặt cho vùng đất Việt từ thế kỷ 2 TCN, sau lan rộng thành tên gọi Trung Quốc và Nhật Bản dùng chỉ cả nước Việt — và chính cách phát âm này là gốc của từ “Cochinchina” mà phương Tây dùng gọi Đàng Trong, vùng đất có thương cảng Hội An sầm uất thế kỷ 16–18. chấm dứt, sau khi bà qua đời. Quận Nhật Nam, vùng đất bao quanh Quảng Nam ngày nay, khi ấy vẫn nằm dưới ách đô hộ của nhà Hán.

Đến năm 192, sử liệu Trung Hoa mới lần đầu nhắc tới một vương quốc mang tên Lâm Ấp — cái tên Trung Hoa gọi Champa. Người phương Bắc đặt tên ấy trước khi có bất cứ dòng chữ nào của chính người Champa còn lại tới hôm nay.

DI CHỈ CẠNH TRÀ KIỆUCuối thế kỷ 2

Nhà cháy ở Gò Cấm

Cách Trà Kiệu 3,5 km về phía hạ lưu là Gò Cấm, một gò đất ở xã Duy Trung, huyện Duy Xuyên.

Năm 2000, các nhà khảo cổ khai quật thám sát nơi này và tìm thấy tàn tích một ngôi nhà gỗ từng bị cháy, dài ít nhất 13 mét. Trong đống đổ nát còn sót lại những viên ngói kiểu Hán, có viên dài hơn 60 cm.

Định tuổi bằng carbon phóng xạ đưa niên đại xây dựng ngôi nhà về cuối thế kỷ 2 — cùng thời với năm 192 mà sử Trung Hoa nhắc tới Lâm Ấp. Lớp đất bên dưới còn giữ dấu vết văn hóa Sa Huỳnh, cho thấy người ta dựng nhà lên trên một nơi đã có người ở từ trước đó rất lâu.

Một đám cháy, một mái nhà đổ sập, và hôm nay người ta vẫn đo được đúng kích thước của nó.

VUA VĂN ĐÁNH NHẬT NAM337 – 347

Người từng hầu việc lên ngôi

Sách Lương thư chép rằng năm 337, một vị vua Lâm Ấp qua đời, và một người từng hầu việc trong triều tên là Văn lên thay ngôi.

Mười năm sau, năm 347, sách Tấn thư chép Văn, khi ấy đã là vua, đem quân đánh quận Nhật Nam, làm bị thương viên quan đứng đầu quận.

Sử Trung Hoa gọi việc ấy là tiếm quyền. Với người Lâm Ấp, đó có thể chỉ là một vị vua khác lên ngôi.

BIA SÁNG LẬP380 – 413

Đất dâng cho thần Bhadreśvara

Vua Bhadravarman trị vì Champa trong khoảng những năm 380 đến 413. Dưới triều ông, người Champa dựng nên minh văn tiếng Phạn xưa nhất còn lại của mình, tại Mỹ Sơn — nơi về sau trở thành thánh địa và lăng mộ hoàng gia.

Bia đá ấy, các nhà nghiên cứu sau này gọi là C.72, ghi lời vua Bhadravarman dâng đất cho thần Bhadreśvara. Đất có ranh giới bốn phía: núi Sulaha ở phía đông, một ngọn núi lớn ở phía nam, núi Kucoka ở phía tây, một con sông lớn ở phía bắc, cùng những người dân cày cấy trên đất ấy.

Vua tự nhận biết thân người vô thường, nên đem phần đất bền vững, gọi là akṣayī nīvī — của dâng không bao giờ mất — gán vào đền thần, và răn những đời vua sau đừng phá bỏ. Ai giữ đúng lời thì phúc về mình. Ai phá thì tội đến thần Bhadreśvara biết.

Học giả Louis Finot công bố bản dịch tiếng Pháp của bia này năm 1902. Hơn một nghìn năm sau khi khắc, lời của vua Bhadravarman vẫn còn đọc được gần như nguyên văn.

thánh địa Mỹ Sơn hôm nay, nơi vua Bhadravarman từng dựng đền thờ thần Bhadreśvara
HAI BỆ ĐÁ TRÀ KIỆUKhoảng thế kỷ 7

Hai bệ đá, một kinh thành

Trước năm 1911, một người tên Rougier tìm được một bệ đá tại Trà Kiệu, cao 36 cm. Các nhà nghiên cứu sau này gọi nó là C.137. Bệ đá vào Bảo tàng EFEO tại Hà Nội ngay năm ấy.

Năm 1927, kiến trúc sư người Pháp Jean-Yves Claeys, khi đó vừa chuyển sang ngành khảo cổ, chỉ huy đợt khai quật đầu tiên tại di tích Champa Trà Kiệu. Ông tìm thêm một bệ đá khác, thấp hơn, cao 54 cm, sau này gọi là C.173.

Cả hai bệ đá đều khắc vào khoảng thế kỷ 7. Bệ đá C.173 mãi tới tháng 3 năm 2012 mới được ghi lại số hiệu hiện hành — LSb 42277 — tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Hà Nội.

Hai bệ đá, cùng đào lên từ một kinh thành, hôm nay đứng cùng một nơi: Bảo tàng Lịch sử Quốc gia ở Hà Nội.

bệ đá C.173, thấp và rộng hơn bệ C.137 ở đầu trang, cùng đào lên từ Trà Kiệu
DƯỚI LÒNG PHỐThế kỷ 9 – 14

Gạch ngói Champa dưới nền Cẩm Thanh

Nhà nghiên cứu Trần Kỳ Phương mô tả mỗi tiểu quốc cảng-thị của người Champa dựng theo một khuôn: một trung tâm buôn bán ở cửa sông thiêng, một kinh thành của vương quyền ở phía tây, và một thánh địa hoàng gia dưới chân núi thiêng. Với tiểu quốc Amaravati, vùng Quảng Nam ngày nay, ba thành tố ấy là Đại Chiêm Hải Khẩu, kinh thành Sinhapura ở Trà Kiệu, và thánh địa Mỹ SơnĐỊA ĐIỂM · SÔNGSông Thu BồnTừ khi có đồng bằng · đến nayMỗi năm sông Thu Bồn đổ ra biển khoảng 20 km³ nước, nhiều hơn mọi con sông miền Trung, và 80 đến 90% lượng ấy dồn vào bốn tháng cuối năm. Phố cổ Hội An đứng trên một cồn cát do chính con sông này bồi nên. bên dòng Thu Bồn.

Tên gọi ấy phần lớn là chuyện suy ra từ thư tịch và từ Trà Kiệu. Câu hỏi khó hơn là: ngay trong lòng Hội An hôm nay, có tìm được gì của người Champa không?

Có. Tại Bàu Đà, thôn Võng Nhi, xã Cẩm Thanh, gần cửa Đại ngày nay, các nhà nghiên cứu khảo sát năm 1993 tìm thấy gạch ngói kiểu Champa cùng đồ gốm sứ cổ của Trung Quốc.

Gạch của người Champa nằm dưới chính nền đất mà người Việt sau này dựng nên Hội An hôm nay.

KỶ NGUYÊN THƯƠNG MẠI SỚM900 – 1300

Sứ đoàn lên phương Bắc, tiếng nói khắc vào đá

Sau khi nhà Đường sụp đổ đầu thế kỷ 10, Champa mất liên lạc trực tiếp với triều đình Trung Hoa nhiều năm. Khi nhà Tống dựng lên, Champa nối lại quan hệ: năm 960, đoàn triều cống đầu tiên của Champa tới kinh đô nhà Tống, mang theo sản vật địa phương.

Cùng lúc, Champa cũng ngoảnh về phía nam. Bia Nhan Biều, khắc năm 911 hoặc 912, ghi việc vua Jayasimhavarman cử một người cháu trai của hoàng hậu, tên Pov Klun Rajadvarah, sang đảo Java để lập quan hệ ngoại giao.

Đầu thế kỷ 11, một văn khắc khác tại Chiên Đàn, trên tảng đá gốc cao 80 cm, được nhắc tới lần đầu trong tư liệu trước năm 1892, ghi bằng chính lời một vị vua Champa: nhà vua dâng tù binh người Khmer và người Việt lên thần linh của thành Tralaun Svon và nhiều đền khác ở Amaravati.

Không phải người ngoài kể lại chiến tranh giữa Champa với láng giềng. Chính đá của người Champa khắc lại việc đó, bằng giọng của kẻ thắng.

văn khắc Chiên Đàn, vẫn còn tại chỗ, ghi lời một vị vua Champa
TRANH LUẬN RỜI ĐÔThế kỷ 10 – 16

Amaravati mất vai trò, hay không mất?

Đầu thế kỷ 20, học giả người Pháp Georges Maspero đưa ra một cách hiểu về lịch sử Champa: cuối thế kỷ 10, cùng với sự sụp đổ của vương triều Đồng Dương, Champa rời đô từ vùng Quảng Nam về Bình Định, dựng kinh đô mới ở thành Đồ Bàn. Theo cách hiểu ấy, cảng Hội An suy tàn ngay từ đó, nhường vai trò cho cảng Thị Nại ở Quy Nhơn.

Cách hiểu này đứng vững gần một thế kỷ. Nhưng nhà nghiên cứu Michael Vickery, dựa trên văn khắc tìm được, chỉ ra rằng bằng chứng về sự trỗi dậy của Vijaya chỉ xuất hiện từ cuối thế kỷ 12, đầu thế kỷ 13 — muộn hơn nhiều so với điều Maspero từng nói. Ông đề nghị bỏ ý tưởng rời đô: Champa không phải một nước chỉ có một kinh đô, mà là nhiều tiểu quốc tồn tại song song.

Khảo cổ học đứng về phía Vickery. Gốm sứ đời Tống, đời Nguyên vẫn tìm thấy dày đặc quanh Hội An và sông Thu Bồn. Theo nhà nghiên cứu Kikuchi, phải tới thế kỷ 15–16, di chỉ các thời kỳ trước mới ngưng xuất hiện ở vùng này. Cùng lúc, kinh đô Vijaya cũng suy vong.

Cảng không mất vai trò trong một năm nào cụ thể. Nó mờ dần, qua nhiều thế kỷ.

SANG TAY NGƯỜI VIỆT1471 – thế kỷ 16

Đại Chiêm Đồng Tri Châu

Năm 1471, vua Lê Thánh Tông hạ thành Vijaya, kinh đô Champa ở vùng Bình Định. Đó là mốc thường được nhắc tới như điểm kết của vương quốc Champa thống nhất.

Nhưng ở Quảng Nam, quyền lực không đổi chủ trong một ngày. Nhà vua đặt một thủ lĩnh gốc Champa đứng cùng một viên quan người Việt để cùng cai quản vùng đất này, gọi chung là chức Đại Chiêm Đồng Tri Châu. Thế lực của các thủ lĩnh Champa địa phương vẫn còn tới cuối thế kỷ 15, không biến mất ngay sau năm 1471.

Giữa thế kỷ 16, khi Nguyễn Hoàng bắt đầu gây dựng quyền cai quản trên lưu vực sông Thu Bồn, ông kế thừa một số cách quản trị và cả mạng lưới kinh tế mà người Champa đã dựng nên từ trước. Cảng không sinh ra dưới thời chúa Nguyễn. Chúa Nguyễn thừa hưởng nó.

CÒN CHẠM ĐƯỢCHôm nay

Từ Trà Kiệu tới bảo tàng

Phần lớn những gì còn lại của lớp Champa không nằm ở Hội An, mà ở Trà Kiệu, ở Mỹ Sơn, và trong các bảo tàng.

Bia sáng lập của vua Bhadravarman, ký hiệu C.72, nay lưu tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia ở Hà Nội, số hiệu LSb 21165. Hai bệ đá Trà Kiệu, C.137 và C.173, cũng ở đó.

Bảo tàng Lịch sử Quốc gia ở Hà Nội, nơi lưu giữ bia C.72 và hai bệ đá Trà Kiệu

Còn Gò Cấm, còn nền móng dưới Bàu Đà, còn những viên gạch dưới nền Hội An hôm nay. Những thứ ấy không đi đâu cả — chỉ là bị phủ lên bởi những lớp phố thị xây sau đó.

LẦN THEO MẠCH CHUYỆN
NGUỒN
NGUỒN ẢNH
LỜI NGỎ

Bạn còn cất giữ một tấm ảnh cũ, một tờ báo xưa, hay một câu chuyện về Lớp Chăm Pa của Hội An? Gửi về Hội An Ký qua [email protected]. Vốn quý của Hội An, là nhờ bà con mình cùng gìn giữ.

Gửi cho Hội An Ký →