Sườn núi phủ rừng của Hòn Lao nhìn từ mặt biển dưới trời xanh trong, đá tảng màu trắng lộ ra dọc bờ, mặt nước xanh thẫm êm ả phía trước.
ĐỊA ĐIỂM · ĐẢO

Cù Lao Chàm

Cụm tám đảo ngoài Cửa Đại

Tám hòn đảo xếp cánh cung ngoài Cửa Đại, chắn gió cho thương cảng Hội An suốt nhiều thế kỷ. Cách đảo 20 km ngoài khơi, một con tàu chở gốm đắm từ thế kỷ XV nằm im dưới đáy biển, cho tới khi lưới ngư dân kéo trúng những chiếc đĩa còn nguyên men.

TÊN CŨ CỦA ĐẢONĂM 1696

Bức bình phong ngoài Cửa Đại

Từ đất liền nhìn ra biển Đông, tám hòn đảo xếp thành một cánh cung, đảo lớn nhất là Hòn Lao với đỉnh núi cao 517 mét. Cù Lao Chàm cách Cửa Đại chừng 15 km, cách trung tâm phố cổ Hội An 19 km về hướng đông – đông bắc, đứng chắn ngay lối tàu thuyền vào sông Thu Bồn.

Năm 1696, nhà sư Trung Hoa Thích Đại Sán ghé qua trên đường về nước, ghi lại trong Hải ngoại kỷ sự: "Mấy hòn đảo bao quanh như vành ghế, ở giữa một vùng đất bằng phẳng." Đại Nam nhất thống chí sau này chép đảo "cách huyện Diên Phước 68 dặm về phía Đông, ngất ngưởng giữa biển gọi là đảo Ngọa Long", dùng làm mốc cho thuyền ta và thuyền khách phương xa nhận đường vào cửa Đại Chiêm.

Cái tên Cù Lao Chàm định hình muộn. Trước đó sách vở gọi đảo bằng đủ kiểu: Chiêm Bất Lao, Tiêm Bích La, Đại Chiêm dữ, Ngọa Long dữ. Người châu Âu vẽ bản đồ cũng đặt tên riêng theo lối của họ — năm 1548, bản đồ Ramusio ghi "Capo pulocanpola". Năm 1650, bản đồ của Alexandre de Rhode ghi "Polociampeilo". Phải đợi tới năm 1838, bản đồ An Nam đại quốc họa đồ của Taberd mới chép đúng ba chữ "Cù lao Chăm".

Một cái tên định hình chậm hơn ba trăm năm so với cái đảo đã đứng đó, làm hoa tiêu cho không biết bao nhiêu chuyến tàu.

TRƯỚC CẢ HỘI ANKHOẢNG 3100 NĂM TRƯỚC

Người ở đảo trước cả Hội An

Trước khi phố cổ Hội An có người ở, đã có người sống trên đảo. Tháng 5/1999, các nhà khảo cổ đào thám sát tại Bãi Ông, chân núi Hòn Lao, và tháng 6/2000 khai quật mở rộng. Kết quả giám định niên đại cho ra con số 3.100 ± 60 năm trước hiện tại — sớm hơn bất cứ dấu vết cư trú nào từng tìm thấy trong đất liền Hội An.

Dưới lớp cát, đoàn khai quật nhặt được hơn 13.000 mảnh gốm thô của cư dân tiền Sa Huỳnh, cùng hơn 185 hiện vật đá: rìu có vai, bàn mài, hòn đập, dụng cụ miết gốm. Có cả mộ chum chôn cùng lớp, đá cuội kè quanh đáy, hoa văn in mép vỏ sò còn rõ trên miệng nồi.

Người xưa chọn đảo làm nơi ở trước, rồi mới tới lượt đất liền.

TRẠM DỪNG TRÊN BIỂNTHẾ KỶ VIII – X

Trạm nghỉ trên đường tơ lụa trên biển

Nhiều thế kỷ sau lớp cư dân tiền Sa Huỳnh, Cù Lao Chàm trở thành một bến đỗ trên đường biển nối Trung Cận Đông với Trung Hoa. Tháng 5/1998, đoàn khảo cổ thám sát di tích Bãi Làng, năm sau khai quật một hố rộng 8 m², tầng văn hóa dày 1,4 m.

Trong lớp đất ấy có gốm sứ Islam từ lò Trung Cận Đông, gốm men xanh từ các lò Việt Châu và Trường Sa của Nam Trung Hoa, mảnh thủy tinh màu và đồ trang sức tinh xảo. Niên đại các hiện vật gom về một khung: thế kỷ VIII đến thế kỷ X, đúng giai đoạn thương mại Champa hưng thịnh nhất, khi thuyền buôn từ Trung Cận Đông ghé thẳng vùng biển Champa mà không còn phải qua ngả Phù Nam.

Cù Lao Chàm khi đó không phải điểm dừng phụ, mà là nơi buôn bán trước khi có Hội An.

1471NĂM 1471

Đảo về tay Đại Việt

Từ thế kỷ X, Đại Việt giành độc lập và mạnh dần lên, còn Champa suy yếu, kinh đô lùi dần về phía Nam. Đến thế kỷ XV, tuyến buôn bán Phúc Kiến – Luzon mở ra, thuyền Trung Hoa bớt ghé Cù Lao Chàm, đảo thưa dần khách buôn. Năm 1471, đạo Thừa tuyên Quảng Nam được xác lập, Cù Lao Chàm về tay Đại Việt, tiếp tục làm trấn sơn cho Cửa Đại của các chúa Nguyễn.

Người Việt tới ở đông trên Hòn Lao từ thế kỷ XVII, lập nên phường Tân Hiệp. Tháng 8/1978, Tân Hiệp tách thành xã đảo riêng, ba thôn Bãi Ông, Bãi Làng, Bãi Hương. Ca dao trên đảo còn giữ câu "Rủ nhau cơm gói ra Hòn, muốn ăn được yến phải lòn hang Khô", dấu vết một nghề mà Hải trình chí của Phan Huy Chú từng ghi triều Lê giao cho đội Hoàng Sa thu lượm.

Đảo cũng lọt vào mắt người ngoài. Năm 1523, giáo sĩ Bồ Đào Nha Duarte Coelho ghé qua, tạc một hình thánh giá lên đá làm kỷ niệm. Năm 1742, một viên chức Công ty Đông Ấn Pháp tên Dumont viết bản phúc trình đề nghị chiếm đảo, mở thương điếm để nắm ngoại thương ở Hội An. Năm 1793, ba chiến hạm Anh trong sứ đoàn Macartney bỏ neo ở vịnh Đà Nẵng, cũng dành thời gian quan sát và tường trình kỹ về Cù Lao Chàm.

Không ai trong số họ chiếm được đảo, nhưng cái tên Cù Lao Chàm đã nằm trong không biết bao nhiêu bản phúc trình gửi về những triều đình xa xôi.

Cổng đá phong hóa của một ngôi chùa cổ trên đảo, sơn đỏ và vàng đã bạc màu loang lổ, một người đội nón lá rộng khoác áo mưa sặc sỡ đang bước về phía cửa vòm, đồi núi phủ rừng phía sau.Ảnh 2006 · thành viên Blon, Wikimedia Commons · CC BY-SA 3.0
Một trong những cổng chùa cổ trên đảo, nay vẫn còn đứng
CƠN SỐT ĐỒ BIỂNTỪ NĂM 1993

Ngư dân vớt được kho báu

Đầu thập niên 1990, ngư dân vùng biển Hội An kéo lưới trúng một mẻ lạ: những mảnh gốm cổ dính đầy trong lưới, cách đảo Cù Lao Chàm chừng 20 km về phía đông. Họ mang lên bờ, bán cho các quầy lưu niệm trong phố cổ.

Vẻ đẹp và niên đại cổ của những món đồ ấy tạo nên một cơn sốt: từ năm 1993, dân buôn đồ cổ đổ về Hội An săn "đồ biển". Ngư dân dùng lưới quét chuyên dụng dài hàng nghìn mét, cào thẳng xuống đáy biển sâu 70 m, hàng vạn hiện vật vỡ nát, hàng nghìn món trôi dạt sang tay giới buôn khắp thế giới.

Cơn sốt chỉ chững lại khi hải quan sân bay Đà Nẵng bắt được hai người Nhật mang đồ gốm cổ chưa khai báo, và Bộ Văn hóa – Thông tin ra chỉ thị bảo vệ khu vực.

Một mẻ lưới tình cờ đã lôi cả một con tàu năm trăm tuổi trở lại với người sống.

SÁU ĐỢT LẶN1997 – 1999

Sáu đợt lặn xuống bảy mươi mét nước

Việt Nam khi đó chưa có ngành khảo cổ học dưới nước, mà con tàu lại nằm sâu 70 m, độ sâu chưa từng có cuộc khai quật khảo cổ nào trên thế giới thử qua. Ngày 14/2/1997, Chính phủ ra công văn cho phép Bảo tàng Lịch sử Việt Nam hợp tác với hai công ty trục vớt VISAL và Saga (Malaysia) cùng khai quật, dưới sự giám sát khảo cổ của Đại học Oxford.

Sáu đợt nối nhau trong ba năm: ba đợt khảo sát, một đợt tiền khai quật, hai đợt khai quật chính. Đợt tiền khai quật tháng 8/1997 chỉ làm được 12 ngày giữa bão, lấy lên 41 mẫu gốm. Đợt năm 1998 kéo dài từ 16/5 đến đầu tháng 7, 42 chuyên gia ăn ở ngay trên xà lan, vớt được 922 món gốm men. Đợt năm 1999, từ 23/4 đến đầu tháng 7, dùng cả phương pháp lặn bão hòa khí tốn kém, mang về hơn 240.000 hiện vật.

Ba mùa bão, ba năm chuẩn bị thủ tục, để đưa được một con tàu chìm hơn năm trăm năm lên khỏi đáy biển.

CON TÀU VÀ HÀNG HÓATHẾ KỶ XV

Con tàu và 240.000 món đồ

Xác tàu dài 29,4 m, chỗ rộng nhất 7,2 m, lòng chia 19 khoang bằng những thanh dầm ghép khít không cho nước thấm qua nhau. Viện Lâm nghiệp Việt Nam xác định gỗ đóng tàu là gỗ tếch, loại gỗ mà trước thế kỷ XVIII chỉ có ở vùng Ấn Độ, Thái Lan, Myanmar, Lào.

Hàng hóa trên tàu chủ yếu là gốm hoa lam, gốm men ngọc, gốm men trắng từ lò Chu Đậu ở Hải Dương, đủ hình đủ dạng: đĩa lớn nhất đường kính 46,2 cm, món nhỏ nhất chỉ cao 2,7 cm. Lẫn trong đó còn 41 đồng tiền cổ, 24 đồng xác định được là tiền Trung Hoa, xưa nhất từ đời Đường, muộn nhất là tiền Vĩnh Lạc đầu thế kỷ XV.

Trong khoang tàu còn có hài cốt của 11 người: 6 người trưởng thành, một thiếu niên, hai trẻ nhỏ. Một hộp sọ nữ chừng 18, 19 tuổi mang đặc điểm gần với người Thái Lan hiện đại, khiến các nhà khảo cổ nghiêng về giả thuyết con tàu đóng ở vùng Chantaburi, Thái Lan, chở gốm Việt sang bán, trên đường về ghé cảng Vân Đồn thì gặp bão ngoài khơi Cù Lao Chàm mà đắm.

Người đóng tàu là người Thái, hàng trên tàu là gốm Việt — một chuyến đi không thuộc về riêng một nước nào.

Tủ trưng bày trong bảo tàng với bát đĩa men lam và một chiếc bình rót hai bầu vớt từ tàu đắm, phía sau là các bảng ảnh đóng khung minh họa thêm những loại hình gốm khác của con tàu.Ảnh 2005 · thành viên Viethavvh, Wikipedia tiếng Việt · CC BY-SA 3.0
Gốm Chu Đậu vớt từ tàu đắm, trưng bày ngay trên đảo
PHIÊN ĐẤU GIÁTHÁNG 10/2000

Phiên đấu giá không như tính toán

Số hiện vật còn nguyên hoặc gần nguyên lên tới hơn 240.000 món, chưa kể hàng vạn mảnh vỡ. Bảo tàng Việt Nam giữ lại toàn bộ những món độc bản cùng một phần mười số món trùng lặp, phần còn lại đưa ra thị trường quốc tế.

Ngày 10/10/2000, nhà đấu giá Butterfields ở San Francisco mở phiên bán mang tên Treasures from the Hoi An Hoard. Ba chiếc bình gốm hình rồng, mỗi chiếc định giá 30.000 đến 50.000 đô-la, bán được 79.500, 63.000 và 57.500 đô-la, hai trong số đó về tay Bảo tàng Anh và phòng tranh bang New South Wales của Úc.

Nhưng hết ba ngày đấu giá, chỉ 4/10 số lô hàng bán được. Ông Ong Soo Hin, người bỏ tiền tổ chức trục vớt, đã đầu tư gần 14 triệu đô-la, cuối cùng chỉ thu về xấp xỉ 2,96 triệu.

Con tàu tốn công trục vớt hơn tốn công bán.

ĐẢO HÔM NAYNĂM 2009

Đảo hôm nay

Ngày 26/5/2009, Cù Lao Chàm cùng vùng cửa sông Thu Bồn được UNESCO công nhận khu dự trữ sinh quyển thế giới, vùng lõi rộng 5.000 héc-ta gồm cả rạn san hô lẫn thảm cỏ biển. Hơn 22 công trình đình, lăng, miếu, chùa, giếng cổ dựng từ đầu thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XX vẫn còn đứng trên đảo.

Xã đảo Tân Hiệp nay có hơn 2.000 dân, chia làm bốn thôn: Bãi Ông, Xóm Cấm, Bãi Làng, Bãi Hương. Nghề thu yến trên vách đá, nghề mà đội Hoàng Sa từng làm thay triều Lê, vẫn còn người theo, chỉ khác là thuyền du lịch nay chở khách ra ngắm san hô nhiều hơn chở người đi lấy củi, lấy nước như thời Thích Đại Sán từng thấy.

Con tàu năm trăm tuổi vẫn nằm dưới đáy biển, còn phần lớn khách ra đảo hôm nay chỉ biết đến rạn san hô phía trên nó.

Hàng chục con mực đã mổ phơi trên giàn lưới thép gác qua các thùng nhựa trên sân xi măng, nắng gắt giữa trưa đổ bóng rõ nét.Ảnh 2006 · thành viên Blon, Wikimedia Commons · CC BY-SA 3.0
Mực phơi trên đảo
LẦN THEO MẠCH CHUYỆN
NGUỒN ẢNH
LỜI NGỎ

Bạn có ảnh nào chụp đợt khai quật tàu đắm 1997–1999, hay chính con tàu, xà lan công trình ngoài khơi năm ấy không? Hội An Ký chưa tìm ra một tấm nào.

Hay bạn từng ra đảo, biết thêm về nghề thu yến trên vách đá hôm nay còn mấy nhà làm?

Gửi cho Hội An Ký qua [email protected].

Gửi cho Hội An Ký →