Làng rau nhìn từ trên cao: các thửa rau chia thành nhiều luống dài, màu xanh đậm nhạt khác nhau, xen đường đất. Phía xa là nhà cửa và đồng ruộng.
NGHỀ · RAU TRÀ QUẾ

Nghề trồng rau Trà Quế

Rong đầm, luống cát và mớ rau của phố Hội

Trà Quế là một cù lao giữa sông Đế Võng và đầm, cách phố cổ Hội An 2,5 km. Người làng bỏ chài lưới lên bờ trồng rau, bón bằng rong vớt dưới đầm, rồi gánh ra chợ phố thành món mà người Hội An gọi thẳng bằng tên làng. Tuổi nghề chưa ai chốt được: nguồn nói 300, 400, 500 năm, còn tờ giấy sớm nhất ghi tên làng là địa bạ năm 1818.

ĐỊA THẾTừ đầu Công nguyên

Một cù lao giữa sông và đầm

Từ phố cổ đi lên phía bắc chừng 2,5 km là tới Trà Quế. Hồ sơ di sản của Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di sản Văn hóa Hội An tả làng như một cù lao sông nước, một bên là sông Đế Võng, một bên là đầm Trà Quế.

Đế Võng là tên khúc sông Cổ Cò chảy qua Đại An, Phước Trạch, Thanh Châu. Từ thế kỷ XVIII trở về trước, con sông ấy nối thương cảng Hội An với Đà Nẵng. Nay nhiều đoạn đã bồi lấp, và theo chú thích trong một bài về sông Cổ Cò đăng trên trang của Trung tâm, đầm Trà Quế bây giờ là dấu vết của nó. *Đại Nam nhất thống chí* chép một cái đầm tên Như Quế. Bài ấy chú thêm trong ngoặc: tức Trà Quế.

Làng rau nhìn từ trên cao: mảng đất vàng xanh có nhà cửa nằm giữa mặt nước xanh thẫm, nước ôm hai phía.ảnh · H.S, đăng trên hoianheritage.net, 2025
làng rau nhìn từ trên cao, nước ôm quanh hai phía

Người ở đây từ rất sớm. Hồ sơ nghề viết rằng các nhà khảo cổ tìm thấy dấu vết văn hóa Sa Huỳnh cách nay 2000 năm ở Trà Quế. Một bài khác của Trung tâm ghi di chỉ ở thôn Đồng Nà cùng xã, cạnh chùa Vạn Đức, bên bờ nam của con sông cổ, mà không gọi tên văn hóa nào. Hai đợt đào thám sát tháng 11/1993 và tháng 6/1994 xác định đó là một nơi cư trú có niên đại từ thế kỷ I đến thế kỷ III, IV.

Giữa làng rau còn một cái giếng xây toàn bằng đá, thành hình lăng trụ, miệng rộng 1 m, sâu chừng 4 m. Tương truyền giếng có từ thời Champa. Các nhà nghiên cứu thấy kiểu giếng mang phong cách Chăm, còn năm xây thì chưa có tư liệu nào xác định. Theo Trung tâm, nước giếng tưới làng rau từ bao đời nay.

Làng còn cái giếng, chưa có tờ giấy nào nói giếng đào năm nào.

TUỔI CỦA LÀNGThế kỷ XVI hay năm 1818

Làng bao nhiêu tuổi

Hỏi tuổi làng rau, mỗi nguồn nói một số. Hồ sơ công nhận di sản của Trung tâm viết hơn 300 năm, kể từ lúc những cư dân Việt đầu tiên thuộc các tộc Phạm, Mai, Nguyễn, Lê đến lập cư. Một bài khác của Trung tâm, viết về ngữ văn dân gian, nói làng hình thành khoảng thế kỷ XVI, do người từ phía bắc Đại Việt vào khai hoang. Tạp chí Công Thương, khi tường thuật lễ trao danh hiệu của UN Tourism, viết làng có lịch sử từ thế kỷ XVII. Một bài nghiên cứu du lịch năm 2026 viết hơn 400 năm. Báo Văn Hóa, trong bài năm 2025, gọi làng là hơn 500 tuổi.

Hơn 300 năm và thế kỷ XVI cách nhau nhiều thế hệ, vậy mà có bài báo ghép cả hai vào một câu: hơn 300 năm, vào khoảng thế kỷ XVI.

Chính Trung tâm không giấu chỗ trống ấy. Lý lịch lễ Cầu Bông của họ ghi thẳng: chưa tìm thấy tư liệu văn tự nào về quá trình hình thành của cộng đồng dân cư làng Trà Quế.

Tờ giấy sớm nhất ghi tên làng mà hồ sơ nghề dẫn là địa bạ làng Thanh Hà lập năm Gia Long thứ 17, tức 1818, đã ghi tên Trà hoặc Nhà Quế. Theo hồ sơ, muộn nhất đầu thế kỷ XIX tên làng đã có. Trong lịch sử làng còn mang các tên Như Quế, Thanh Quế, Nhà Quế.

Còn cái tên từ đâu ra thì dân gian kể: khoảng thế kỷ XVIII có một vị vua đi chơi sông Đế Võng, ghé vào làng, nếm một thứ rau thấy thơm như trà, cay như quế, bèn đặt tên cho làng rau. Hồ sơ chép đó là chuyện lưu truyền và không nêu vị vua nào.

Địa bạ cho một mốc chắc, truyền thuyết cho một câu chuyện hay, còn ngày đầu tiên thì chưa ai ghi.

GỐC NGHỀĐến thập niên 1940

Từ chài lưới lên vườn rau

Theo lời các bậc cao niên trong những buổi tham vấn cộng đồng, người đến Trà Quế đầu tiên sống bằng chài lưới, đánh tôm cá trên sông Đế Võng. Họ gặp một thứ rau nấu với tôm, cua, cá thì ngon, bèn đem giống về trồng.

Rồi việc đánh bắt ngày càng khó. Một số người nghĩ tới chuyện khai thêm đất để trồng rau, trồng lúa. Lý lịch lễ Cầu Bông ghi lời dân lâu năm trong làng: con sông nhỏ chảy qua thôn bị bồi lấp, nghề chài lưới dần nhường chỗ cho nghề nông. Những vạt ngò, rau húng mọc lên trước, rồi tới rau é, hành, cải, hẹ. Cũng theo lý lịch ấy, đây là làng rau truyền thống duy nhất của Hội An, cung cấp rau xanh chủ yếu cho Hội An và vài vùng lân cận.

Trước năm 1945, Trà Quế chưa là một làng riêng. Nó là một trong 13 ấp của làng Thanh Hà. Sổ điều tra làng xã Quảng Nam của Viện Viễn Đông Bác cổ, làm đầu thập niên 1940, chép về Thanh Hà rằng thổ sản đặc biệt là rau sống, lúa, khoai sắn, và trừ rau sống có đem bán ra ngoài, các thứ khác không đủ cho dân làng dùng. Đoạn ấy cũng ghi nghề của làng chủ yếu là ngói, gạch, đồ gốm, nghề nông chiếm một nửa.

Trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, Trà Quế là vùng căn cứ cách mạng của xã Cẩm Hà và thị xã Hội An. Hồ sơ nghề kể dân làng ngày làm rau, đêm đào hầm nuôi giấu cán bộ, và những gánh rau cũng góp phần nuôi quân.

Nghề rau mọc lên ở chỗ nghề chài lưới hụt hơi.

ĐẤT VÀ PHÂNTheo hồ sơ năm 2020

Rong đầm và luống rau

Đầu vụ, người trồng rau lo giống trước. Giống ở Trà Quế là giống bản địa, giữ lại từ đời này sang đời khác. Với rau gieo hạt, người ta để dành hạt to, tròn, không nhăn, không bệnh, lấy từ cây cao to đã chín vàng, phơi từ 1 đến 3 nắng. Phơi lâu hạt chai cứng, khó nảy mầm. Hẹ thì tách từ bụi già, hành tỏi thì lấy củ già. Riêng rau diếp cá ưa đất thịt hơn đất cát nên ít khi để giống, dân làng thường mua cây giống của vùng lân cận về trồng.

Đất được làm trước khi trồng. Người ta cuốc sâu 40 đến 50 cm, đảo lớp dưới lên trên rồi phơi nắng cho đất ải. Cỏ gấu, cỏ chỉ không chôn mà nhổ bằng tay. Bài của Trung tâm ghi: đất càng ải thì rau càng tốt. Xưa đất nhiều dân ít, đất phơi cả tháng. Nay làm thâm canh, chỉ phơi 2 đến 3 ngày, nhiều nhất 10 ngày.

Những luống rau lá dài mảnh chạy chếch về phía xa, bên trái là một luống rau lá nhỏ tròn, giữa các luống cắm đầu phun tưới trên cọc nhỏ. Phía sau là mái nhà và hàng cây, trời nhiều mây.ảnh · Christophe95 · CC BY-SA 4.0 · Wikimedia Commons, 2018
luống rau ở Trà Quế, giữa các luống có đầu phun tưới

Trong lúc đất ải, người ta lo phân xanh, và thứ phân riêng của làng rau là rong. Rong mọc ở đầm Trà Quế và sông Đế Võng. Dân làng phân ra rong chèo, rong vịt, rong mền, rong cây, rong lá hẹ, rong chồn, trong đó rong chèo và rong cây bón tốt nhất. Rong tan hết trong đất sau 10 đến 15 ngày, riêng rong vịt thân cứng phải hơn 20 ngày.

Rong được vớt bằng ghe, chở lên bờ, gánh về, phơi 1 đến 2 ngày cho héo. Người ta rạch dưới luống một rãnh sâu chừng 10 cm rồi lăn rong thành cuộn dài bằng chiều ngang luống. Rong vừa nuôi đất vừa che nắng, giữ ẩm cho rễ. Hết rong thì làm đợt khác. Rau cải thu nhanh nên không bón rong lên mặt đất, vì rong chưa kịp mục thì rau đã nhổ.

Luống rộng 70 đến 80 cm, dài hết thửa đất, cách nhau 30 cm để đi tưới, đi hái. Đánh luống cho phẳng mịn là việc công phu, phải có cha mẹ anh chị chỉ bảo mới làm được. Theo bài của Trung tâm, luống phẳng không chỉ nói lên kỹ thuật mà còn nói lên đức tính của người làm và của cả gia đình.

Bài ấy viết năm 2020 và ghi rằng trong 4, 5 năm gần đó rong ngoài đầm không còn nhiều. Người ta bón lót bằng phân chuồng, phân dê trộn bánh dầu, thêm vôi và tro. Phân hóa học vẫn dùng nhưng rất hạn chế.

Thứ phân riêng của làng mọc ngay dưới đầm, nên khi rong ít đi, cả cách làm cũng phải đổi.

NƯỚC VÀ TRỜITrước 1990 đến 2020

Gánh nước, xem mưa, tránh sao Rua

Trước năm 1990, nhà nào trồng rau cũng gánh nước ao mà tưới, 3 đến 5 hộ đào chung một cái ao. Hồ sơ ghi thời trước, việc tưới bắt đầu từ 2 giờ sáng.

Muốn về Trà Quế mà chơi, nghĩ lại sự đời gánh nước chai vai.
CA DAO · CHÉP TRONG BÀI CỦA TRUNG TÂM DI SẢN

Năm 1992 làng có điện, mỗi hộ tự lắp giếng máy, tưới bằng vòi xoa. Khoảng 4 năm trước khi bài hồ sơ viết ra, cả làng lắp hệ thống tưới tự động. Mùa nắng tưới 3 lần một ngày, lúc 6 giờ, 10 giờ và 5 giờ chiều. Mùa mưa tưới 2 lần.

Nhưng rau cần nước nào thì người ta cũng xem. Mưa chiều từ hướng biển, hướng đông, thì sau mưa phải tưới rửa, vì nước biển bốc lên hơi mặn, gây hư cây. Mưa từ đất liền ra, hướng tây nam, là nước ngọt, khỏi tưới. Người trồng còn xem sao trên trời và tránh trồng vào ngày sao Rua, sao Cày nở, vì giai đoạn ấy rau dễ hư. Hồ sơ ghi sao Rua nở ngày 14 tháng 4 âm lịch, sao Cày nở ngày 1 tháng 5 âm lịch.

Máy tưới đã vào làng, nhưng sau lượt máy, người ta vẫn xoa gàu thêm một lượt cho đất thấm và cho cát đọng trên lá trôi đi.

TRÊN BÀN ĂNBài năm 2013

Mớ rau đi chợ phố

Một bài của Trung tâm năm 2013 tả buổi sáng cuối đông ở Trà Quế: các cô gái gánh rau còn ướt sương, bước thoăn thoắt ra chợ phố cho kịp phiên sớm.

Rau bán ở chợ là rau sống trộn. Theo bài năm 2020 của Trung tâm, rau sống thì người trồng không cắt một lần cho hết. Họ mót, chỗ này một ít, chỗ kia một ít, rồi trộn các thứ lại, nhúng nước cho sạch và xếp vào rổ. Rau ngon nhất vào hai lúc trong ngày: khi sương còn đọng trên cọng lá, hoặc lúc hoàng hôn.

Vườn rau nhìn từ bờ ruộng, các luống rau xanh chạy dài dưới trời nhiều mây, cọc tre và dây giăng giữa vườn, phía xa là mái nhà và hàng dừa.ảnh · Christophe95 · CC BY-SA 4.0 · Wikimedia Commons, 2018
vườn rau Trà Quế, nơi mớ rau được mót từng chỗ một

Rau sống phố Hội, theo bài ấy, phải đủ năm vị: cay, ngọt, đắng, chát, chua. Cay có quế, húng, rau răm. Đắng có rau đắng, thứ rau mọc tự nhiên ở vùng đất ngập nước lợ. Chua có diếp cá, ngọt có giá đậu xanh, chát có bắp chuối.

Trong giỗ kỵ, chạp mả, người ta thường gọi thêm một món rau sống và gọi nó bằng tên làng, món Trà Quế. Những ngày 29, 30 Tết, hầu như ai đi chợ cũng mua một mớ về ăn ba ngày Tết.

Bài ấy hỏi thẳng: mì Quảng, cao lầuNGHỀ · MÓN ĂNCao LầuGốc gác chưa rõ · dấu vết sớm nhất từ thế kỷ XIXNghề làm sợi cao lầu đứng trên ba thứ bình thường: gạo cứng hạt, nước trong, tro bếp lọc kỹ. Nhưng nó đảo ngược một trình tự ai làm mì cũng quen: xắt sợi trước, hấp chín sau. liệu còn đậm đà như xưa nếu không có rau sống Trà Quế. Một bài khác của Trung tâm nói rau ăn kèm cao lầu lấy từ Trà Quế, và dân gian truyền nhiều câu ca dao về món ấy.

Rau nổi tiếng từ bao giờ thì bài ấy chỉ dám ghi lời nghe nói: nghe đâu từ thời chúa NguyễnTHỜI ĐẠI · ĐÀNG TRONGThời các chúa Nguyễn1558 – 1777Chín đời chúa cai quản Đàng Trong hơn hai trăm năm bằng một bộ máy sống nhờ biển: thuế đánh vào thuyền buôn ghé cảng, và mỗi năm bảy mươi suất lính đi thuyền câu ra khơi ba ngày ba đêm nhặt hải vật đem về nộp. Khi cảng không nuôi nổi nữa, bộ máy ấy đổ trong ba năm., hương rau vùng này đã vang khắp Đàng Trong. Không có tư liệu nào kèm theo. Còn chuyện gần hơn thì bài kể rau Trà Quế ra tận Huế, vào Quảng Ngãi, Nha Trang, và có lần lên máy bay vào Sài Gòn cho người xứ Quảng xa quê.

Cả một đĩa rau của người Hội An mang tên một cái làng.

LỄ CẦU BÔNGMồng 7 tháng Giêng

Lễ Cầu Bông mồng Bảy tháng Giêng

Mồng 7 tháng Giêng là ngày khai hạ. Ở Trà Quế, ngày ấy dân làng cúng Cầu Bông, cúng xong thì hạ nêu, báo hết ba ngày Tết bảy ngày xuân và vào việc năm mới. Cây nêu dựng từ ngày 24 tháng Chạp.

Cây nêu cao dựng giữa sân làng, treo dải đỏ và đèn lồng, cờ đỏ sao vàng bên cạnh. Người đứng xem phía sau, phía trước là các luống rau xanh nhạt đậm khác nhau.ảnh · Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di sản Văn hóa Hội An (hoianheritage.net), 2024
cây nêu giữa sân làng, người đứng xem phía sau các luống rau

Sáng mồng 7, hầu như nhà nào làm rau cũng cúng ở nhà trước, có nhà cúng xong ở làng mới về, có nhà chiều ra vườn cúng đất. Khoảng 7 giờ cả làng tụ về chỗ chung. Mục đích của lễ, theo lý lịch, là cầu mưa thuận gió hòa, rau xanh lá tốt, cây đơm bông kết quả và dân cư bình an.

Lễ vật có mâm xôi màu hồng, nhuộm bằng lá kim long. Có con gà trống, trên lưng cắm dao tre, hai bên đặt miếng huyết, bộ lòng và cặp giò. Lý lịch giải thích gà không chỉ mang ý đại cát mà còn gắn với đời làm rau: mỗi sáng nhờ tiếng gà gáy mà người ta dậy, ra vườn mót rau đi bán.

Người xướng điều hành cả buổi lễ, mọi việc theo tiếng hô của ông. Có chánh tế, hai người tả hữu phân hiến, học trò lễ dâng rượu dâng hương, hai người đánh chiêng trống, một người đọc chúc văn và một đội cổ nhạc. Lễ xong có tục xem giò gà để đoán năm ấy nhà và làng làm ăn thế nào. Lý lịch ghi hiện nay ít người cao tuổi còn đoán được.

Nơi cúng đã dời nhiều lần. Trước kia lễ ở Miếu Xóm. Dân đông thì tách ra cúng ở đình Phe Đông và đình Phe Tây. Sau năm 1975 các đình hư hại, bà con cúng tại nhà. Những năm gần đây lễ lại làm ngay khu đất trống giữa làng rau.

Phần hội do chính người trồng rau thi nhau: vớt rong, làm đất, gieo trồng, nấu món tôm hữu làm từ tôm, hành và rau húng. Lý lịch viết đây không phải chỗ khoe tài của diễn viên chuyên nghiệp mà là chỗ của những người cầm cuốc, trồng rau. Từ khi du lịch Hội An lên, phần hội mở ra cho cả khách. Năm 2026, theo Báo Văn Hóa, lễ diễn ra sáng 23 tháng 2 dương lịch, tức mồng 7 âm lịch, có thi gói tôm hữu, thi nông dân sản xuất rau giỏi, thi xới đất trồng cây, cùng bài chòi và kéo co.

Hạ nêu xong, người ta ra ruộng.

TÍN NGƯỠNG1845 đến 2008

Ba ngôi miếu của các bà

Trà Quế còn ba nơi thờ nữ thần: miếu Bà Chúa Ngọc, miếu Bà Dàng và miếu Ngũ Hành Tiên Nương. Bài nghiên cứu năm 2024 của Trung tâm nhắc rằng trước năm 1945 làng chỉ là một ấp của làng Thanh Hà, tổng Phú Triêm hạ, huyện Diên Phước, phủ Điện Bàn.

Theo nhiều tài liệu, Bà Chúa Ngọc là một tên dân gian của Thánh Mẫu Thiên Y A Na, vị nữ thần gốc ChampaTHỜI ĐẠI · TRƯỚC CẢNG VIỆTLớp Chăm Pa của Hội AnKhoảng năm 192 – 1471Trước khi có tên Hội An, khúc sông Thu Bồn này một nghìn năm là cảng-thị của vương quốc Champa, với đền tháp, văn khắc và mạng lưới buôn bán vươn tới Trung Hoa và Java. mà người Chăm gọi là Mẹ Xứ Sở, còn có tên Poh Nagar. Bà Dàng đọc trại từ *Yang*, tiếng Chăm nghĩa là thần. Triều Nguyễn có sắc phong cho bà. Ở Hội An còn 20 bản sao sắc phong cho Thiên Y A Na, bản sớm nhất năm Minh Mạng thứ 7 (1826), bản muộn nhất năm Khải Định thứ 9 (1924). Riêng Thanh Hà có một bản trong số ấy.

Về miếu Bà Chúa Ngọc, Trung tâm viết là chưa có tư liệu thành văn nào. Truyền khẩu kể Thượng thư Bộ Binh Nguyễn Văn Điển (1791 đến 1852) nhiều lần được bà báo mộng, tránh được hiểm nguy khi hành quân, nên khoảng năm 1845 cho dựng miếu ngay quê nhà. Tượng bà bằng đá, theo lời kể, ông thỉnh từ Nam Định về. Miếu sập năm 1968 giữa chiến tranh. Sau năm 1975 dân dựng một khám thờ nhỏ trên nền cũ, đến năm 2000 góp tiền xây lại miếu như nay.

Một ngôi miếu nhỏ tường quét vôi, mái ngói đỏ, hiên mở ra phía trước có hai cột gỗ. Trước miếu là bình phong đắp nổi, cây cảnh và chuối, một lá cờ đỏ buông ở hiên. Bên trái chồng mấy bao tải, phía sau là vườn rau.ảnh · Trần Phương, đăng trên hoianheritage.net, 2024
miếu Bà Chúa Ngọc, thôn Trà Quế

Hằng năm miếu cúng ngày 16 tháng Giêng và ngày vía 21 tháng 8 âm lịch. Theo lệ truyền, bàn thờ trong chỉ dâng đồ chay, không dâng đồ mặn.

Miếu Bà Dàng ở tổ 5. Các cụ trong làng kể miếu có trước cả miếu Bà Chúa Ngọc, từng lớn, theo lối kiến trúc cổ truyền, rồi sập hẳn thời chiến. Khoảng 15 năm trước bài viết, bà con tổ 5 góp sức xây lại. Mỗi năm cúng ngày 16 tháng Giêng. Xưa Trà Quế còn có hội Bà Chúa Ngọc do phụ nữ trong ấp lập ra để lo hương khói, nay không còn.

Ba khám thờ xây liền nhau, sơn vàng nhạt, dưới một mái tôn. Khám giữa có mái nhỏ, hai khám bên thấp hơn. Trong mỗi khám có bình hoa và đồ cúng nhỏ.ảnh · Trần Phương, đăng trên hoianheritage.net, 2024
miếu Bà Dàng, tổ 5

Miếu Ngũ Hành Tiên Nương ở tổ 1 có tên chữ là Như Quế miếu. Chưa có tư liệu nào xác định năm dựng. Các cụ nói miếu có từ lâu đời. Khoảng năm 1947 chiến tranh làm sập hẳn, dân dựng lại nhỏ và tạm, đến năm 2008 tu bổ lớn bằng ngân sách thành phố cộng tiền đóng góp của bà con. Miếu thờ năm vị nữ thần Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ, kèm tiền hiền và âm linh của cộng đồng Trà Quế. Dân làng cúng ngày mồng 7 tháng Giêng.

Một ngôi miếu tường vàng, mái ngói âm dương, mặt tiền ba cửa vòm. Hai bên cửa có hoa văn tròn đắp nổi. Trước sân là bình phong đắp nổi và một lư lớn, cây cối rậm phía sau.ảnh · Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di sản Văn hóa Hội An (hoianheritage.net), 2024
miếu Ngũ Hành Tiên Nương, tổ 1

Cái tên Như Quế còn nằm trên miếu, và chữ *Yang* của người Chăm còn nằm trong tên Bà Dàng.

GHI DANH1998 đến 2022

Một nghề được ghi tên

Hồ sơ nghề không bắt đầu năm 2020. Trung tâm kể mốc từ năm 1998, khi ấn phẩm *Văn hóa ẩm thực ở Hội An* giới thiệu rau sống Trà Quế. Năm 2004 có đề tài điều tra khảo sát nghề trồng rau. Năm 2006 Trung tâm lập hồ sơ lý lịch cho nghề. Năm 2013 Trung tâm chạy chương trình kiểm kê nghề thủ công truyền thống ở Hội An, nghề rau nằm trong đó.

Năm 2020, Trung tâm xin chủ trương lập hồ sơ quốc gia và được Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Quảng Nam đồng ý bằng công văn ngày 13/3/2020. Hơn một năm sau đó họ gom tư liệu, tổ chức buổi tham vấn cộng đồng với những người làm nghề lâu năm nhất, dựng một phim tư liệu dài hơn 21 phút và viết bản lý lịch 40 trang.

Ngày 04/4/2022, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành Quyết định số 784, công bố Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, ghi danh Nghề trồng rau Trà Quế vào hạng mục Tri thức dân gian, Nghề thủ công truyền thống. Đó là di sản quốc gia thứ tư của Hội An, sau nghề gốm Thanh HàĐỊA ĐIỂM · LÀNG NGHỀLàng gốm Thanh HàHình thành khoảng TK XVI · di sản quốc gia 2019Thế kỷ mười sáu, tám dòng họ từ Thanh Hóa, Nghệ An theo chân người Việt vào xứ Quảng, dừng chân bên một khúc sông Thu Bồn và dựng nên làng Thanh Hà. Năm trăm năm sau, người làng vẫn còn ngồi bên bàn xoay ấy, và một phần mái ngói phố cổ Hội An vẫn mang tên đất của họ., nghề yến Thanh Châu và nghề mộc Kim BồngĐỊA ĐIỂM · LÀNG NGHỀLàng mộc Kim BồngHình thành TK XVI · công nhận 2016Từ thế kỷ XVI, thợ làng Kim Bồng bên kia sông dựng nên phần lớn phố cổ Hội An bằng mộng gỗ không đinh, và tới hôm nay vẫn là bàn tay giữ cho những mái nhà ấy đứng vững.. Ủy ban nhân dân thành phố lên kế hoạch tổ chức lễ đón nhận ngày 16/7/2022 ngay tại làng rau. Báo Văn Hóa đăng ngày 18/7/2022 rằng lễ đã tổ chức, nhưng không ghi ngày.

Trước đó làng đã có hai dấu mốc khác. Theo Báo Văn Hóa, tháng 3/2009 Cục Sở hữu trí tuệ cấp giấy chứng nhận nhãn hiệu tập thể cho sản phẩm rau Trà Quế, Cẩm Hà. Theo một bài nghiên cứu du lịch năm 2026, làng được công nhận là làng nghề truyền thống năm 2016.

Bản lý lịch viết xong nhờ những người già nhất trong nghề chịu ngồi nói.

GIỮ NGHỀ2001 đến nay

Giữ nghề giữa mùa khách

Năm 2001, thị xã Hội An quy hoạch sản xuất rau tập trung trên 15 ha. Số hộ sống bằng nghề nông thì co lại. Lý lịch lễ Cầu Bông đếm năm 2003 thôn có 239 hộ, trong đó 229 hộ sống bằng nông nghiệp, chủ yếu trồng rau, chiếm 95,8%. Năm 2013 thôn có 264 hộ, trong đó 196 hộ sống bằng nông nghiệp, chiếm 74,2%.

Hồ sơ nghề dẫn số liệu 2018 của Ủy ban nhân dân xã Cẩm Hà: 207 hộ chuyên trồng rau, 345 lao động, sản lượng 792 tấn, giá trị 10,73 tỷ đồng, thu nhập bình quân của người trồng rau và làm dịch vụ khoảng 4,4 triệu đồng mỗi người mỗi tháng. Làng có khoảng 55 loại rau, trong đó hành hương, rau diếp, xà lách son, rau húng dài đã mất giống. Báo Văn Hóa đếm khoảng 40 loại. Diện tích trồng rau khoảng 18 ha, theo số liệu của Ban quản lý làng rau.

Du lịch vào làng sớm hơn hồ sơ. Một bài báo đăng lại trên trang Trung tâm gọi Trà Quế là điểm du lịch nông nghiệp, nông thôn đầu tiên của tỉnh vào đầu thế kỷ XXI, rồi cho biết giai đoạn 2015 đến 2019 có lúc lượng khách chạm đáy. Tháng 9/2019 thành phố duyệt phương án phát triển du lịch cộng đồng tại làng rau. Đầu năm 2020 điểm tham quan khai trương. Năm 2023 làng đón hơn 25 nghìn lượt khách, năm 2024 hơn 30 nghìn.

Một nhóm người ngồi xổm trên thửa đất đã xới, cấy từng cây rau non. Đứng phía sau là đám đông, có người bế trẻ nhỏ, hai lá cờ đỏ cắm giữa ruộng. Trên đất vương những bó rau con, góc dưới có một chiếc rổ tre.ảnh · Hồng Việt · hoianheritage.net, đăng năm 2024
người làng và người ngoài cùng trồng rau trên thửa đất mới xới

Ngày 15/11/2024, Tổ chức Du lịch Liên Hợp Quốc (UN Tourism) công bố 55 Làng du lịch tốt nhất năm 2024. Trà Quế là làng Việt Nam duy nhất trong danh sách, và chứng nhận được trao tại Quảng Nam ngày 10/12/2024. Cùng thời gian đó, ông Nguyễn Văn Lanh, phó chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hội An, nói với Báo Văn Hóa rằng làng cần giữ các yếu tố truyền thống, tránh "bẫy thương mại hóa du lịch" và tránh bê tông hóa. Một bài khác của Báo Văn Hóa, đăng năm 2025, đếm trong làng 23 cơ sở lưu trú và 16 nhà hàng. Theo bài nghiên cứu năm 2026, một phần tiền vé tham quan được trích lại để hỗ trợ giống, phân bón và dụng cụ cho các hộ làm rau.

Tháng 7/2025, Quảng Nam hợp nhất vào Đà Nẵng, và Trà Quế nay thuộc phường Hội An Tây. Một bài nghiên cứu năm 2026 đếm trong làng 307 hộ dân, trong đó 204 hộ trồng rau trên 18 ha.

Lý lịch lễ Cầu Bông ghi phần hội có thi vớt rong, dù bài của Trung tâm năm 2020 ghi rong ngoài đầm không còn nhiều.

LẦN THEO MẠCH CHUYỆN
CÙNG HỆ GIẾNG · giếng đáGiếng Bá LễĐỊA ĐIỂM · GIẾNG CỔKhông ai ở Hội An hôm nay còn nhớ tên gọi đầu tiên của cái giếng vuông trong kiệt Bá Lễ — chỉ biết đầu thế kỷ XX, một người đàn bà bỏ ra một trăm đồng Đông Dương để trùng tu nó, và từ đó cả phố gọi nó bằng tên bà.NỐI QUA CỔ CÒ · đường nướcSông Thu BồnĐỊA ĐIỂM · SÔNGMỗi năm sông Thu Bồn đổ ra biển khoảng 20 km³ nước, nhiều hơn mọi con sông miền Trung, và 80 đến 90% lượng ấy dồn vào bốn tháng cuối năm. Phố cổ Hội An đứng trên một cồn cát do chính con sông này bồi nên.RAU ĂN KÈM CHO · rau sốngCao LầuNGHỀ · MÓN ĂNNghề làm sợi cao lầu đứng trên ba thứ bình thường: gạo cứng hạt, nước trong, tro bếp lọc kỹ. Nhưng nó đảo ngược một trình tự ai làm mì cũng quen: xắt sợi trước, hấp chín sau.THẦN CHĂM CỦA · Poh NagarLớp Chăm Pa của Hội AnTHỜI ĐẠI · TRƯỚC CẢNG VIỆTTrước khi có tên Hội An, khúc sông Thu Bồn này một nghìn năm là cảng-thị của vương quốc Champa, với đền tháp, văn khắc và mạng lưới buôn bán vươn tới Trung Hoa và Java.CHUNG LÀNG XƯA · làng Thanh Hà xưaLàng gốm Thanh HàĐỊA ĐIỂM · LÀNG NGHỀThế kỷ mười sáu, tám dòng họ từ Thanh Hóa, Nghệ An theo chân người Việt vào xứ Quảng, dừng chân bên một khúc sông Thu Bồn và dựng nên làng Thanh Hà. Năm trăm năm sau, người làng vẫn còn ngồi bên bàn xoay ấy, và một phần mái ngói phố cổ Hội An vẫn mang tên đất của họ.
NGUỒN
  1. Ngọc Hương, Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di sản Văn hóa Hội An, "Nghề trồng rau Trà Quế - Quá trình xây dựng hồ sơ công nhận Di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia" — hoianheritage.net, 2022
  2. Lê Thị Ngọc Hương, Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di sản Văn hóa Hội An, "Tri thức dân gian về chọn giống, trồng và chăm sóc rau tại làng rau Trà Quế Cẩm Hà" — hoianheritage.net, 2020
  3. Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di sản Văn hóa Hội An, "Lý lịch: Lễ cúng Cầu Bông ở làng rau Trà Quế, xã Cẩm Hà" — hoianheritage.net
  4. Trần Phương, "Tín ngưỡng thờ Nữ thần ở Trà Quế" — hoianheritage.net, 2024
  5. Khánh Vân, "Nghề trồng rau Trà Quế trong ngữ văn dân gian Hội An" — hoianheritage.net, 2022
  6. Liễu Chi, "Du xuân trong hương rau Trà Quế" — hoianheritage.net, 2024
  7. Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di sản Văn hóa Hội An, "Hương rau Trà Quế" — hoianheritage.net, 2013
  8. Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di sản Văn hóa Hội An, "Đặc điểm, giá trị của các di tích ở Cẩm Hà" — hoianheritage.net, 2021
  9. Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di sản Văn hóa Hội An, "Giếng Đá Trà Quế - Thôn Trà Quế - Xã Cẩm Hà" — hoianheritage.net, 2015
  10. Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di sản Văn hóa Hội An, "Ẩm thực Hội An qua ca dao tục ngữ" — hoianheritage.net
  11. Phước Tịnh, "Tổ chức tọa đàm và Lễ đón nhận danh hiệu Di sản Văn hóa phi vật thể Quốc gia Nghề trồng rau Trà Quế" — hoianheritage.net, 2022
  12. "Trà Quế, từ cú hích làng du lịch tốt nhất" — đăng lại trên hoianheritage.net (báo chí về di sản), 2025
  13. Báo Văn Hóa, "Kinh nghiệm từ một làng rau" — baovanhoa.vn, 2024
  14. Báo Văn Hóa, "Làng rau, làng nghề" — baovanhoa.vn
  15. Báo Văn Hóa, "Du lịch xanh tại làng rau hơn 300 tuổi" — baovanhoa.vn, 2023
  16. Báo Văn Hóa, "Làng rau Trà Quế đón nhận danh hiệu Di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia" — baovanhoa.vn, 2022
  17. Báo Văn Hóa, "Rộn ràng lễ hội cầu bông Trà Quế" — baovanhoa.vn, 2026
  18. "Phát triển du lịch tại làng rau Trà Quế, TP. Đà Nẵng trong bối cảnh hiện nay" — Tạp chí Kinh tế - Tài chính, 2026
  19. Võ Văn Hoàng, "Vai trò của sông Cổ Cò với thương cảng Đà Nẵng – Hội An trong lịch sử" — hoianheritage.net
  20. UN Tourism, "UN Tourism Announces Best Tourism Villages 2024: 55 Rural Communities Shaping the Future of Sustainable Travel" — unwto.org, 15/11/2024
  21. Hạ Vĩ, "Quảng Nam: Làng rau Trà Quế được trao chứng nhận Làng du lịch tốt nhất năm 2024" — Tạp chí Công Thương, 10/12/2024
NGUỒN ẢNH
LỜI NGỎ

Bạn có biết nhà nào ở Trà Quế còn giữ gia phả hay văn bia kể ngày các tộc Phạm, Mai, Nguyễn, Lê đến lập làng không? Bài mới có địa bạ năm 1818 và lời các cụ.

Hay tấm ảnh nào chụp ghe vớt rong, gánh nước tưới hay lễ Cầu Bông từ trước năm 1975? Hội An Ký đợi thư bạn ở [email protected].

Gửi cho Hội An Ký →